Bài Viết Archives - Page 4 of 7 - Trà Nai Vàng

Archive for Category: Bài Viết

Showing 31–40 of 67 results

  • Trà đạo được biết đến như một loại nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12. Theo truyền thuyết của Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoađể tham vấn học […]

    Nguồn Gốc Trà Đạo

    Trà đạo được biết đến như một loại nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12.

    Theo truyền thuyết của Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoađể tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đã sáng tác ra cuốn “Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký” (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà.

    Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo (chado, 茶道), một sản phẩm đặc sắc thuần Nhật.

    Từ việc đơn giản uống trà, chuyển sang cách pha và uống trà, rồi nghi thức thưởng thức trà cho đến khi đúc kết thành trà đạo, đây là một tiến trình không ngừng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo lý với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo không đơn thuần là con đường, là phép tắc uống trà mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách: trước tiên, hòa mình với thiên nhiên, để từ đây tu sửa tâm, nuôi dưỡng tính và đạt tới giác ngộ.

    Khái quát: Hòa – Kính – Thanh – Tịch

    Hòa, Kính, Thanh, Tịch (和 – 敬 – 清 – 寂) là bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo. Phật giáo thường dùng thuật ngữ “ngón tay chỉ mặt trăng”. Suy rộng ra, Trà đạo là con đường mà đi hết con đường đó sẽ đến nơi có “trà vừa ngon vừa không ngon”.

    Cũng như nhiều thứ cần phải rèn luyện, học tập, Trà đạo luôn gắn liền với thực hành. Khác với trông chờ vào đâu đó, Trà đạo thuộc về bên lối sống “tự làm chủ bản thân”.

    Lịch sử

    Giai đoạn 1

    Vào thế kỷ thứ 8 – 14 trà bắt đầu được sử dụng phổ biến trong tầng lớp quý tộc. Lúc đó có các cuộc thi đấu đoán tên trà. Văn hóa uống trà giai đoạn đó được coi là những trò chơi xa xỉ và tầng lớp quý tộc rất thích dụng cụ uốngtrà Trung Quốc.

    Giữa cái bối cảnh xô bồ này, một nhà sư tên là Murata Juko đã tìm thấy vẻ đẹp giản dị tồn tại trong văn hóa uống trà. Đến với trà bằng tinh thần của nhà sư, nên Murata Juko rất coi trọng cuộc sống tinh thần. Trà đạo ra đời như thế.

    Juko yêu cái đẹp “wabi” và “sabi”.

    Tuy nhiên, trà đạo vẫn còn chưa được nhiều người biết đến. Sau Murata Juko, người kế nghiệp tiếp theo là Takeno Jyoo.

    Jyoo quan niệm: “Mặc dù xung quanh chúng ta chẳng có gì cả: không hoa, không lá; nhưng có cảnh hoàng hôn chiều tà với một mái nhà tranh.”

    Giai đoạn 2

    Sau thời Jyoo, đến thế kỷ 16 là thời của Senno Rikyu – Rikiu mới là người đã đưa ra bước ngoặt quan trọng, tạo nên một văn hóa trà đạo trong giới võ sĩ (samurai). Senno Rikyu đã là thầy dạy trà đạo cho Oda Nobunaga (Shogun – người đứng đầu giới võ sĩ) của thời Azuchi. Sau khi Oda Nobunaga chết, Toyotomi Hideyoshi lên (thời Momoyama) thì Senno Rikyu tiếp tục dạy cho ông này. Như vậy, hoạt động của Senno Rikyu có tầm ảnh hưởng khá sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, và ảnh hưởng mạnh đến chính trị thời đó.

    Đông Honganji

    Trong thế kỷ 16, cùng thời với Senno Rikyu, còn có Yabunnouchi Jyochi, cũng là học trò của Takeno Jyoo. Yabunouchi Jyochi là trà sư tại chùaHonganji, ngôi chùa lớn nhất đất nước Nhật Bản. Yabunouchi chú trọng việc thực hành Trà đạo ở chính nơi bản thân, nơi lối sống, nơi cái tâm trong trẻo của mỗi người.

    Ngoài ra còn có nhiều trà nhân khác nữa. Mỗi trà nhân đều pha trà theo phong cách riêng của mình. Nếu các phái (trà) có sự khác nhau thì chỉ khác một chút ở phần thực hiện những động tác của nghi thức pha trà, tức là khác phần bên ngoài, còn đạo tinh thần bên trong là duy nhất.

    Giai đoạn 3

    Trà đạo trong thời hội nhập

    Trà đạo hiện nay cũng dần được biến đổi, trong mỗi phòng trà đều có một số bàn ghế gỗ cho khách ngồi.

    Nếu như khách không thể quen với kiểu ngồi truyền thống của Nhật thì sự biến đổi nói trên cho phép người phương Tây với thói quen hiện đại cũng có thể tham gia được những buổi trà đạo mà không hề làm mất đi không khí tôn nghiêm trong phòng uống trà.

    Dần dần, trà đạo được đưa vào phòng khách theo phong cách phương Tây. Người đến không cần phải gò bó theo kiểu ngồi hay cách uống trà của người Nhật vẫn có thể mặc áo theo kiểu Tây phương.

    Trà thất

    Bên trong một Trà thất

    Trà thất là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là “nhà không”.

    Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng.

    Trong khu vườn nhỏ có thể bố trí một vài nét chấm phá để tạo nên một ấn tượng về một miền thung lũng hay cảnh núi non cô tịch, thanh bình.

    Nó như một bức tranh thủy mặc gợi lên bầu không khí mà Kobiri Emshiu đã tả:

    Một chòm cây mùa hạ,
    một nét biển xa,
    một vừng trăng chiếu mờ nhạt.

    Trên con đường dẫn đến trà thất, có một tảng đá lớn, mặt tảng đá được khoét thành một cái chén đựng đầy nước từ một cành tre rót xuống. Ở đây người ta “rửa tay” trước khi vào ngôi nhà nằm ở cuối con đường, chỗ tịch liêu nhất:

    Tôi nhìn ra,
    không có hoa,
    cũng không có lá.
    Trên bờ biển,
    một chòi tranh đứng trơ trọi,
    trong ánh nắng nhạt chiều thu.

    Ngôi nhà uống trà làm bằng những nguyên liệu mong manh làm cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự. Không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay. Điều thiết yếu là ngôi trà thất phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cối và những tảng đá.

    Lối vào nhà nhỏ và thấp đến nỗi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, trong khi người võ sĩ đạo thì phải để lại bên ngoài cây kiếm dài.

    Ngay trong phòng trà cũng ngự trị một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy.

    Tokonoma

    Tokonoma là một góc phòng được trang trí và hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Bản thân từ “tokonoma” ám chỉ góc phòng thụt vào hoặc căn phòng có góc như nó.

    Có một vài dấu hiệu để biết đâu là tokonoma. Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình, có thể nhìn thấy một hộp hương trầm.

    Một gia đình truyền thống Nhật có nhiều cuộn giấy và các vật dụng khác mà họ trưng bày ở tokonoma tuỳ từng mùa hoặc ngày lễ gần nhất.

    Khi bước vào một trà thất, người ta thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Cũng có thể xem các vật được trưng bày.

    Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana… chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị.

    Chabana

    Chabana (茶花) là phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hóa Ikebana. Cha, theo nghĩa đen, là “trà” và ban, biến âm của từ hana, có nghĩa là “hoa”.

    Phong cách của chabana là không có bất kỳ qui tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất.

    Hoa thể hiện tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Hoa được cắm trong một chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa.

    Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ chất liệu nào, từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men, cho đến tre, thuỷ tinh và các vật liệu khác.

    Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà phải chọn hoa và lọ tương ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên.

    Kakejiku

    Kakejiku tạm hiểu chỉ là một tấm vải trống trơn, nó có thể cuộn vào đi theo bia rượu, hoặc mở ra treo trên vách tường tokonoma. Lúc thì gắn vào Kakejiku một bức tranh nhỏ, lúc khác một bức thư pháp hoặc là sự kết hợp cả tranh và chữ (thư họa). Những nội dung khi xuất hiện trên Kakejiku thường mang ý nghĩa sâu xa, có thể là một công án Thiền tông,… Chẳng hạn, một câu nói đã được nhắc đến nhiều trong Thiền:

    “Bình thường tâm thị đạo”,

    hoặc một câu văn dường như là riêng biệt của Trà đạo:

    ” Nhất kỳ Nhất hội”,

    hay đơn giản chỉ là một chữ

    “Vô”.[*]

    [*]Vô, là từ Hán Việt. Từ Việt có nghĩa tương đương là Không.

    Kakejiku luôn gắn liền với dáng vẻ, với niềm tin không chia ly, không so bì, không say rượu, không si mê, không mù quáng, không sùng bái.


    Chẳng nhẽ lúc nào cũng nhắc lại cái cũ.

    Trong thời hội nhập, có những lúc Kakejiku gắn theo một nội dung mới. Khi này, một câu văn thơ Việt:

    “Nghìn trái tim mang trong một trái tim”,

    hoặc khi khác, một câu như:

    ” Yêu là chết ở trong lòng một ít”,

    hay một chữ vài chữ tiếng Anh như:

    “Just do it!”.

    Các đạo cụ được sử dụng trong Trà Đạo

    Để có thể thực hiện được một nghi thức Trà Đạo, người hành lễ cần phải có đầy đủ các yếu tố sau:

    Trà Thất

    Trà Thất: Là một căn phòng có kích thước nhỏ nhất khoảng 3x3m. Trong phòng có trải những tấm tatami hay chiếu tre được sắp xếp thành hình vuông bởi 8 mảnh 0.75×1.5m, trông rất đẹp và trang nhã.

    Cách bày trí các đạo cụ trong Trà Thất

    Tranh, thơ, câu liễn: Là những bức tranh về phong cảnh thiên nhiên hay những bài thơ, câu liễn được treo, dán trong Trà Thất. Nó sẽ làm tăng thêm phần trang trọng cho Trà Thất. Hoa: Thường được cắm trong bình, lọ hay dĩa nhỏ, được đặt ở giữa phòng hay đặt dưới bức tranh trong phòng. Nó có tác dụng làm cho căn phòng thêm sinh động, tạo cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên cho người tham gia. Lư trầm: Được đặt ở góc phòng hay dưới bức tranh hoặc giữa phòng. Nhưng thường lư trầm được đặt ở góc phòng. Trầm hương có tác dụng làm cho căn phòng có được mùi hương thoang thoảng phảng phất nhẹ nhàng, khiến cho mọi người được thư giãn tinh thần, thoải mái dễ chịu. Các đạo cụ trên được xếp rất gọn gàng, không chiếm diện tích của phòng trà, tạo sự cân bằng, hòa hợp theo phong thủy.

    Trà Viên

    Trà Viên: Là một khu vườn được thiết kế phù hợp với việc ngắm hoa, và thưởng thức trà. Nhưng loại hình này ít được thông dụng như Trà Thất bởi tính cầu kỳ của nó đòi hỏi cách bày trí khu vườn thật khéo, làm sao cho khu vườn vẫn còn được nét tự nhiên để người tham gia Trà Đạo không có cảm giác bị rơi vào một cảnh giả do bàn tay con người tạo ra. Trong Trà Viên thì ít khi có các tấm chiếu hay thảm vì mọi người thường ngồi trên thảm cỏ trong vườn.

    Cách bày trí đạo cụ trong Trà Viên

    Hoa, Lư Trầm: Thường được đặt ở giữa chỗ ngồi họp nhóm của những người tham gia. Trong vườn thì có các loài cây như: Hoa anh đào, hoa mai, hoa mơ, tùng, liễu. Những loài cây này dễ tạo cảm hứng thi phú cho người xem trong quá trình đàm Đạo, đối ẩm. Bên cạnh đó là các hòn non bộ, những tảng đá lớn, chậu nước cũng được sắp xếp theo bố cục chặt chẽ, thể hiện sự cân đối Âm – Dương trong phong thủy.

    Những đạo cụ dùng trong việc pha chế và thưởng thức trà

    Trà: tùy theo hệ phái nào mà trà được sử dụng có sự khác biệt.

    Maccha (まっちゃ): trà bột. Người ta hái những lá trà non đem đi rửa sạch, phơi ráo nước và xay nhuyễn thành bột. Vì thế trà có màu xanh tươi và độ ẩm nhất định chứ không khô như các loại trà lá. Khi uống, bột trà được đánh tan với nưới sôi.

    Trà nguyên lá: chỉ lấy nước tinh chất từ lá trà. Lá trà được phơi khô, pha chế trong bình trà, lấy tinh chất, bỏ xác. Thường sử dụng loại trà cho nước màu vàng tươi hay màu xanh nhẹ.

    Phụ liệu: ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế còn cho thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm tăng thêm hương vị cho chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người bệnh mau hồi phục thể chất lẫn tinh thần.

    Nước pha trà: thường là nước suối, nước giếng, nước mưa, hay nước đã qua khâu tinh lọc.

    Ấm nước (お釜): dùng đun nước sôi để pha trà, thường được làm bằng đồng để giữ độ nóng cao.

    Lò nấu nước (焜炉): bếp lò bằng đồng thường dùng than để nấu. Nhưng ngày nay người Nhật đã thay than bằng một bếp điện để bên trong lò đồng

    Hũ đựng nước (水差し): dùng để đựng nước lạnh khi pha trà.

    Chén trà (茶碗): chén dùng để dựng trà cho khách thưởng thức. Chén được làm bằng men, công phu, tỉ mỉ và mỗi chén có những họa tiết độc đáo riêng. Vì thế mà trong khi làm một buổi tiệc trà, không có hai chén trà giống nhau. Các nghệ nhân làm chén cũng đưa chủ đề thiên nhiên, thời tiết vào trong tác phẩm của mình, vậy nên có thể dùng chén phù hợp cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.

    Mùa xuân: chén có những hoa văn mùa xuân như hoa anh đào.

    Mùa hạ: là mùa nóng nên chén trà có độ cao thấp hơn, miệng rộng hơn chén trà mùa xuân để dễ thoát hơi nóng.

    Mùa thu: chén có hình dạng giống chén mùa xuân, có hoa văn đặc trưng cho mùa thu như lá phong, lá momizi.

    Mùa đông: là mùa lạnh nên chén có độ dày và cao hơn các chén mùa khác để giữ nóng lâu hơn. Màu sắc của men cũng mang gam màu lạnh.

    Kensui (建水): chậu đựng nước rửa chén khi pha trà, được làm bằng men và to hơn chén trà một chút.

    Hũ, lọ đựng trà (なつめ): hủ,lọ dùng để đựng trà bột, được trang trí họa tiết rất đẹp, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt nhưng cũng mang tính thẫm mĩ cao. Trên nắp hũ, đôi khi bắt gặp hình quạt giấy, hình hoa lá, tre, trúc,…

    Khăn fukusa (ふくさ): khăn lau hủ,lọ trà và muỗng trà khi pha trà.

    Khăn chakin (茶巾): khăn lau chén trà khi pha trà, được làm bằng vải mùng màu trắng.

    Khăn kobukusa (こぶくさ): khăn dùng để kê chén trà. Khi đem trà cho khách thưởng thức, dùng khăn để lên tay, sau đó đặt chén trà lên để giảm bớt độ nóng từ chén trà xuống tay, sau đó mang chén trà cho khách.

    Muỗng múc trà (茶杓): chiếc muỗng bằng tre, dài, một đầu uốn cong để múc trà.

    Gáo múc nước: chiếc gáo bằng tre, nhỏ, dài để múc nước từ trong ấm nước, hủ đựng nước ra chén trà.

    Cây đánh trà (茶筅): dùng để đánh tan trà với nước sôi. Được làm từ tre, ống tre được chẻ nhỏ một đầu thành nhiều cọng tre có kích thước nhỏ khoảng 1mm.

    Bình trà: để pha trà lá

    Tách trà nhỏ: để thưởng thức loại trà lá.

    Bánh ngọt: dùng bánh trước khi uống trà sẽ làm cho khách cảm nhận hương vị đậm đà đặc sắc của trà.

    Xem Thêm: Cách Phân Biệt Bột Trà Xanh Và Matcha

    Chi tiết
  • Nhận biết Bột Trà Xanh và Matcha như thế nào? Về cơ bản, bột trà xanh và bột matcha đều được làm từ lá cây trà xanh mà ra cả, tuy nhiên, quy trình kĩ thuật trồng trọt và chế biến lại khác biệt hoàn toàn, chính vì thế mà giá bột matcha luôn đắt […]

    Cách Phân Biệt Bột Trà Xanh Và Matcha

    Nhận biết Bột Trà Xanh và Matcha như thế nào?

    Về cơ bản, bột trà xanh và bột matcha đều được làm từ lá cây trà xanh mà ra cả, tuy nhiên, quy trình kĩ thuật trồng trọt và chế biến lại khác biệt hoàn toàn, chính vì thế mà giá bột matcha luôn đắt hơn 3-4 lần so với bột trà xanh.

     

    Quy trình sản xuất bột trà xanh:

    Cây trà được phát triển tự nhiên trong ánh nắng mặt trời, sau đó lá trà được thu hái, sấy và nghiền bằng máy công nghiệp ( 1 số nơi có tách gân lá ra).

    Chính vì bị sấy nhiệt,lá trà bị mất diệp lục, sau đó xay bằng máy công nghiệp nên trong quá trình xay bị sinh nhiệt, làm cho bột trà bị vàng, hoặc vàng đen, bột không được mịn, có thể nhìn rõ bằng mắt thường.

    Vị đắng chát khi thử bằng lưỡi, ít hậu ngot, mùi trà khô, đôi khi hơi khai và khét.

    Quy trình sản xuất matcha

    Khi búp trà nhú ra, toàn bộ vườn trà được che chừng 2 – 3 tuần lễ bởi một giàn rộng phủ rơm để điều tiết quá trình quang hợp, (các mầm trà này được gọi là trà Gyokuro). Điều này làm chậm lại quá trình sinh trưởng của lá trà, làm tăng hàm lượng diệp lục, vitamin và khoáng chất, cũng như aminô axít hơn 7 -10 lần lá trà thường, đem lại nhiều vị ngọt cho trà. Những búp trà tươi non được hái thủ công bằng tay. Sau đó những lá trà này được hấp, sấy, tách bỏ gân lá, cuống lá, Phần thịt là còn lại được gọi là Tencha. Sau đó Tencha được nghiền mịn bằng các cối đá Grannit tạo thành bột, và loại bột này mới được gọi là bột Matcha.

    Bột matcha siêu mịn, sờ tay vào không có cảm giá lợn cợn như bột trà xanh, tan đều trong lưỡi, bắt đầu bằng vị đắng sau đó là vị ngọt thơm thanh mát. Mùi trà tươi mát dịu nhẹ. ( các bạn mũi thính có thể thấy mùi hơi tanh như tảo biển do các khoáng chất được giữ lại ở matcha, đặc biệt là sắt. Một số nhà sản xuất cũng bổ sung 1 hàm lượng nhỏ bột tảo biển để Bột Matcha có màu tươi hơn

    Việc nghiền bằng cối đá Grannit đảm bảo quá trình nghiền không sinh nhiệt, giúp lá trà giữ được màu sắc xanh tươi tự nhiên, và bảo toàn vitamin, khoáng chất có trong trà. Có thể phải mất đến 1 giờ đồng hồ để nghiền được 30g-40g.

    Như vậy, tuy giá tiền bột matcha cao hơn, nhưng hàm lượng dinh dưỡng và các chất có lợi gấp 7 lần bột trà xanh, và không phải sản phẩm bột nào nghiền từ lá trà cũng là bột Matcha. Nếu không làm theo quy trình trên chúng chỉ được gọi là bột trà xanh mà thôi.

    Xem thêm: 10 Cách Đơn Giản Làm Mặt Nạ Bột Trà Xanh

     

    Chi tiết
  • Trà đen là loại chè phổ biến nhất và chiếm khoảng 75% lượng chè tiêu thụ toàn cầu. Giống như nhiều loại trà, nó được làm từ lá của cây Camellia sinensis. Rebecca Baer, một chuyên gia dinh dưỡng ở thành phố New York đã nghiên cứu      vàchỉ ra rằng những người uống […]

    Trà Đen

    Trà đen là loại chè phổ biến nhất và chiếm khoảng 75% lượng chè tiêu thụ toàn cầu.

    Giống như nhiều loại trà, nó được làm từ lá của cây Camellia sinensis.
    Rebecca Baer, một chuyên gia dinh dưỡng ở thành phố New York đã nghiên cứu      vàchỉ ra rằng những người uống khoảng 3 tách trà đen mỗi ngày có thể giảm nguy cơ đột quỵ tới 21%.

    Trà đen có chứa nồng độ cao các hợp chất chống oxy hóa như theaflavins và thearubigins, có liên quan tới mức độ cholesterol thấp.

    Trà đen có một vị hơi đắng và chứa khoảng 40mg caffeine mỗi cốc (một cốc khoảng 50 – 100ml).

    Lá cây trà này thường được cuộn lại và lên men, sau đó sấy khô và nghiền nát.

    Các nhà khoa học tin rằng quá trình lên men, vốn biến trà xanh thành đen, có thể giúp sản sinh chất flavonoid tốt cho sức khỏe.

    Xem Thêm: 7 sai lầm uống trà gây hại cho sức khỏe

    Chi tiết
  • 1. Pha chè với nước quá nguội hoặc quá nóng Trà nên được pha ở nhiệt độ nhất định – lý tưởng là khoảng từ 56 đến 62 độ C. Khi pha ở nhiệt độ cao, trà quá đậm ảnh hưởng đến vị trà, chưa nói đến việc uống trà quá nóng có thể có […]

    7 Sai Lầm Uống Trà Gây Hại Cho Sức Khỏe

    1. Pha chè với nước quá nguội hoặc quá nóng

    Trà nên được pha ở nhiệt độ nhất định – lý tưởng là khoảng từ 56 đến 62 độ C. Khi pha ở nhiệt độ cao, trà quá đậm ảnh hưởng đến vị trà, chưa nói đến việc uống trà quá nóng có thể có một số ảnh hưởng xấu đến hệ thống tiêu hóa của bạn. Khi uống quá lạnh, trà được cho là thu hút đờm.

    2. Vứt bỏ chè hãm quá lâu

    Trà cần phải được uống ngay sau khi bạn đã pha. Điều đơn giản bạn dễ dàng nhận thấy là khi đó trà rất thơm và ngon. Sau khi pha một thời gian, màu sắc trà dần sẫm lại, đậm hơn và nó cũng bị mất hương vị thơm. Điều này là bởi vì trà bắt đầu bị ôxi hóa, quá trình này không tốt khi loại bỏ những điều tốt đẹp mà thức uống như trà có thể mang lại. Điều này là lý do tại sao bạn không bao giờ nên uống trà đã bị bỏ lại qua đêm. Trà lúc đó không chỉ mất đi các chất dinh dưỡng mà sau một thời gian bỏ quên ngoài không khí nó đã bắt đầu thu hút vi khuẩn.

    3. Xem trà giống như chất caffeine

    Có một quan niệm sai lầm phổ biến trong nhiều người là coi trà như một chất caffeine. Nó có thể đúng với một số điều nhưng không phải với trà. Trà đặc sẽ có caffeine và polyphenol. Caffeine, như chúng ta đều biết, là một chất kích thích mạnh mẽ và nhận được quá nhiều của nó có thể gây ra mất ngủ và thậm chí cả tim đập nhanh. Polyphenols, mặt khác, có thể kích thích dạ dày sản xuất rất nhiều các axit dạ dày dẫn đến rối loạn tiêu hóa.

    4. Pha trộn thức uống của bạn

    Bạn không nên uống trà với rượu. sự kết hợp này có thể gây hại cho thận và hệ thống bài tiết. Đây là một nguyên nhân của táo bón và homeopaths nói rằng nó thậm chí có thể gây ra vấn đề cho các cơ quan tình dục – và không ai muốn điều đó.

    5. Uống trà quá nhiều

    Quá nhiều của một điều tốt vẫn có thể gây hại, đó là lý do tại sao bạn không nên uống trà quá nhiều. Theo Hội đồng Trà Vương quốc Anh, một người chỉ nên uống khoảng sáu tách trà mỗi ngày. Uống nhiều trà xanh có thể dẫn đến kết quả là cơ thể không dung nạp cafein, ngoài ra còn có triệu chứng khó tiêu, bất lợi cho tiêu hóa.

    6. Uống trà cùng với thuốc

    Tránh uống trà cùng với thuốc của quý vị nếu quý vị bị bệnh hoặc bị sốt. Trà có thể tương tác với các thành phần hoạt động trong các loại thuốc và làm giảm hiệu quả của thuốc. Nếu bạn đang uống trà khi bạn bị bệnh, thì bạn chỉ nên uống sau khi dùng thuốc hai giờ.

    7. Uống trà khi bụng trống rỗng

    Homeopaths cũng cảnh báo mọi người không uống trà trong lúc bụng trống rỗng. Họ tuyên bố rằng trà sẽ tạo điều kiện cho “lạnh” xâm nhập vào cơ thể, ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp, đặc biệt là phổi. Hơn nữa nó cũng ảnh hưởng đến dạ dày.

    Xem thêm: 7 Loại Trà Tốt Cho Sức Khỏe

    Chi tiết
  • 7 Loại Trà Tốt Cho Sức Khỏe

    1/ Trà Ô long – Tăng cường sự tỉnh táo, ngăn chặn tích tụ cholesterol

    Trà Ô long là loại trà giúp giảm cân, khi uống mỗi ngày sẽ giữ được khí sắc trẻ trung. Thường xuyên uống trà còn giúp bổ sung nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể như acid amin và protein. Trà còn có tác dụng giải tỏa lo âu, tạo khả năng miễn dịch, tăng khả năng đề kháng bệnh tật và giải tỏa những lo lắng về tâm sinh lý. Nếu bạn gặp phải những trục trặc về tâm sinh lý bạn hãy thử uống trà. Sẽ rất hiệu nghiệm đấy!

    Đây còn là loại trà hiệu quả trong việc mang lại nhiệt, ngăn chặn cảm giác lạnh do uống rượu và ngăn ngừa tích tụ cholesterol trong cơ thể.

    2/ Trà hoa cúc– giải độc bức xạ

    Trà hoa cúc là loại trà rất thích hợp cho dân văn phòng, những người tiếp xúc thường xuyên với các loại bức xạ và ô nhiễm điện tử hàng ngày. Trà hoa cúc có vai trò giải độc trong việc tích lũy các hóa chất độc hại hoặc chất phóng xạ và loại trừ hiệu quả sức đề kháng thấp.

    3/ Trà Pu’er – tiêu diệt mỡ bụng cho vòng eo thon

    Loại trà nổi tiếng đến từ Vân Nam Trung Quốc có tác dụng chuyển hóa chất béo. Nó là loại trà hiệu quả nhất giúp loại bỏ chất béo dư thừa. Ngoài ra, trà còn chứa các yếu tố tăng cường phân hủy hiệu quả các chất gây béo bụng.

    4/ Trà ngải cứu – Loại bỏ sưng phù

    Xuất hiện tình trạng sưng phù, đặc biệt là khuôn mặt sẽ ảnh hưởng đến tình trạng công việc của bạn. Điều trị tình trạng nước ứ dư thừa là cách thức chính để giảm được tình trạng sưng phù. Loại trà ngải cứu là loại trà có tác dụng lợi tiểu rất tốt, đồng thời giúp loại bỏ sưng phù đáng kể. Nếu một buổi sáng thức dậy thấy đôi mắt sưng húp hay sau một ngày mệt nhọc thấy chân tay sưng phù thì đừng quên thưởng thức một tách trà ngải cứu nhé!

    5/Trà lô hội – giảm tổn thương do hút thuốc lá

    Trà nha đam có tác dụng thanh lọc cơ thể và tăng cường hệ thống miễn dịch hiệu quả. Đặc biệt tốt trong việc giảm các tổn thương do hút thuốc lá và tác động của khói thuốc lá. Nếu bạn hút thuốc trong một thời gian dài thì trà lô hội là lựa chọn thay thế tốt nhất. Ngoài ra, uống một tách trà lô hội trước khi đi ngủ giúp bạn có được giấc ngủ dễ dàng và sâu giấc hơn.

    6/ Trà kỷ tử  – điều trị táo bón hiệu quả

    Theo y học cổ truyền Trung Quốc, nếu một người mắc chứng táo bón, trong ba ngày liên tiếp không đi cầu thì đừng chần chừ mà nhâm nhi ngay một tách trà kỷ tử. Hương vị ngăm ngăm đắng của nó có công dụng điều trị táo bón rất hiệu quả.

    7/Trà măng cụt – vị ngọt tinh khiết

    Để duy trì một dáng vóc thanh mảnh, ưa nhìn thì nhiều phụ nữ phải nói lời tạm biệt với đồ ngọt. Tuy nhiên, nếu vẫn luôn tham lam và thèm muốn một loại vị ngọt tinh khiết, ít calo thì trà măng cụt là loại trà thích hợp nhất cho bạn.

    Xem thêm: Nghệ Thuật Ướp Trà Hương

    Chi tiết
  • Muốn có trà ngon người ta phải pha ướp từ những loại trà khô như là trà mộc, trà xanh hay trà Ô long có màu nâu sẫm. Ướp trà là một kỳ công phối hợp tinh vi giữa phong cách tao nhã, sành điệu, đó là truyền thống của người Việt ta. Ướp trà […]

    Nghệ Thuật Ướp Trà Hương

    Muốn có trà ngon người ta phải pha ướp từ những loại trà khô như là trà mộc, trà xanh hay trà Ô long có màu nâu sẫm. Ướp trà là một kỳ công phối hợp tinh vi giữa phong cách tao nhã, sành điệu, đó là truyền thống của người Việt ta.

    Ướp trà thường dùng các loại hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa lài, hoa sói. Mỗi loại hoa làm cho trà có một hương vị khác nhau. Ðôi khi người ta ướp với cam thảo hay sâm để khi uống trà cảm thấy vị ngọt ngào ở cổ họng và tinh thần phấn chấn.

    Đỉnh cao của nghệ thuật ướp trà bằng hương hoa là nghệ thuật ướp trà bằng hoa sen. Hoa sen phải được hái từ lúc sớm tinh mơ, chưa có anh mặt trời. Sen để ướp trà phải dùng loại sen bách hoa,phía bên trong các cánh hoa lớn có hằng trăm cánh nhỏ ôm sát vào nhau, che úp nhụy hoa, gạo sen và gương sen. Gạo sen chính là những nhụy trắng non trong đài sen, phải gẩy thật khéo, thật khẽ để gạo sen không nát không bẹp. Ðem thứ gạo quý ấy về, rải từng lớp nhẹ lên từng lớp trà mỏng, ủ kỹ rồi đem sấy khô. Cứ ướp đi ướp lại tới khoảng bảy lần thì được thứ trà sen ngát hương như ý. Khi ấy cánh trà tơi, xốp, đủ để thấm hết hương sen, nước trà xanh, vị trà không còn đậm chát.

     

    Ngoài trà sen người ta còn thường hay ướp trà lài (trà nhài). Ướp trà lài tuy có đơn giản hơn trà sen một chút nhưng cũng không kém phần công phu, đòi hỏi người ướp vừa kiên nhẫn vừa tỉ mỉ trong từng công đoạn. Để có một cân trà ướp hương lài hoàn hảo phải cần đến một cân hoa lài.

    Loại lài ướp chè phải là lài quế, tuy hoa đơn, cánh mỏng, bông nhỏ nhưng rất thơm, chứ loại lài Trung Quốc, Nhật hoa to, cánh dày nom bụ bẫm thích mắt nhưng hương thơm nồng gắt, đem ướp trà có vị nồng nặc khó chịu giống như dùng hóa chất, chỉ nên dùng để chơi. Nụ lài khi đã nhặt xong được rải đều ra mẹt, phủ tờ báo lên trên, đến khoảng 8-9 giờ tối chúng sẽ cùng nhau tỏa hương.

     

    Ở Bảo Lộc mình người làm trà còn hay ướp trà bằng hoa sói, cách ướp cũng tương tự như cách ướp trà lài.

    Nói chung để có được một ấm trà đúng nghĩa phải trải qua nhiều giai đoạn rất kì công, từ chọn trà, ướp trà, pha trà và cả cách thưởng thức trà nữa, công đoạn nào cũng quan trọng cả.

    Xem Thêm: Văn Hóa Uống Trà Của Người Việt

    Chi tiết
  • Hoa Bưởi một loại hoa thân thuộc với người Việt Nam, có thể nói hoa bưởi được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày,nhất là trong các món ăn thức uống quen thuộc như : Trà Ướp Hoa Bưởi, làm bánh trôi ,làm bột sắn dây,sản xuất tinh dầu … Trong đó tinh […]

    Cách Làm Trà Ướp Hoa Bưởi Tại Nhà

    Hoa Bưởi một loại hoa thân thuộc với người Việt Nam, có thể nói hoa bưởi được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày,nhất là trong các món ăn thức uống quen thuộc như : Trà Ướp Hoa Bưởi, làm bánh trôi ,làm bột sắn dây,sản xuất tinh dầu … Trong đó tinh tế nhất vẫn là sử dụng Hoa Bưởi để Ướp Trà .

    Trà Ướp Hoa Bưởi rất quen thuộc với các gia đình Hà Nội nơi có những vườn bưởi Diễn danh tiếng,giống bưởi ta hoa nhỏ,quả bé xinh xinh nhưng hương thơm ngào ngạt mỗi khi xuân về . Hôm nay Trà Thuần Việt sẽ chia sẻ với mọi người về cách ướp Trà Hoa Bưởi tại nhà để cùng Thưởng Trà cùng với gia đình và bạn bè .

    Mua hoa bưởi ở đâu ?

    Hoa bưởi nở rộ vào thời điểm sau tết cuối mùa xuân,thời tiết nồm ẩm . Vào thời gian này các bạn có thể mua được hoa bưởi ở các bà các chị bán hoa rong hoặc trong các chợ ở Hà nội,Cầu kỳ hơn nữa bạn có thể về diễn xin mua hoa bưởi tươi hơi khó khăn đấy nhưng chắc cũng có người trồng bưởi diễn hái cho bạn từ các cây bưởi mới bói hay bưởi chua . Ngoài ra nếu bạn ở miền nam thì miền tây cũng là vùng trông rất nhiều bưởi nên việc mua hoa chắc cũng không khó khăn lắm .

    Hoa Bưởi Ướp Trà

    Chuẩn bị Trà khô để ướp hoa bưởi

    Tốt nhất các bạn nên dùng Trà Tân Cương loại tốt để ướp hoa bưởi để sản phẩm cuối cùng có nước xanh, hậu vị tốt . Nên dùng trà cũ nhưng phải xanh không đỏ nước vì trà mới dễ có mùi hăng lấn át mùi thơm của hoa bưởi .

    Tỷ lệ trà khô ướp với hoa bưởi là : 1kg trà khô ướp với 300 gram hoa tất nhiên nếu bạn muốn trà thành phẩm đậm hay nhạt hương hơn thì có thể tăng giảm lượng hoa một chút là được nhưng không nên nhiều hoa quá nhé .

    Bắt đầu Ướp Trà Hoa Bưởi

    Phần nguyên liệu để ướp trà đã chuẩn bị xong giờ ta bắt tay và sơ chế hoa bưởi trước khi cho vào ướp cùng trà . Bạn cần dùng kéo cắt bỏ nhụy của hoa bưởi vì phần này chứa nhiều nước khi ướp vào trà rất dễ thối nhũn, làm cho trà bị đỏ nước và có mùi thiu . Nhưng nhụy hoa bạn nên để riêng không nên vứt bỏ vì nó chứa lượng tinh dầu rất lớn, bạn có thể cho vào nồi đổ nước sâm sấp và đun sôi khoảng 5 phút, rồi chắt lấy nước cốt dùng pha nước tắm cho cả nhà . Rất là thơm .

    Sau đó chuẩn bị một chiếc hộp giấy các tông nhỏ  hoặc nồi cũng được dùng giấy bản hoặc giấy báo lót một lượt phía trong mục đích để hút bớt ẩm trong quá trình ướp . Đầu tiên ta rải một lớp trà mỏng sau đó đến một lớp hoa mỏng cứ thể đến khi hết hoa hoặc trà . Cuối cùng bạn phủ tiếp một lớp giấy bản hay giấy báo lên trên rồi đạy nắp lại .

    Thông hoa khi ướp Trà Hoa Bưởi

    Đây là quá trình rất quan trọng trong quá trình ướp trà,bởi vì khi ướp trà nếu ta để nguyên không đảo thì hoa với trà sẽ bị hấp hơi, làm cho nhiệt độ của khối trà tăng lên làm cho trà bị đỏ nước và thiu trà . nên trong quá trình ướp trà ta phải đảo trà ( gọi là Thông Hoa ) để cho trà bay bớt hơi ẩm, quá trình đảo trà này  phải thực hiện khoảng 3 tiếng 1 lần trong cả thời gian ướp trà là khoảng 8 đến 10h .

    Sau khi đủ thời gian ướp trà ta tiến hành sàng hoa,nhặt hoa ra khỏi trà và bắt đầu sấy trà

    Sấy khô Trà Hoa Bưởi

    Chuẩn bị một chiếc chảo gang lớn hoặc chảo lớn dùng trong gia đình, rửa sạch chảo,lau khô cho lên bếp đun lửa nhỏ cho chảo nỏng nhưng tốt nhất bạn nên dùng than hồng sắp tàn để rang trà, tuyệt đối không dùng lửa lớn do nóng vội khi rang trà vì rất dễ bị cháy trà hỏng cả mẻ trà

    Bạn cho trà vào chảo rang nhẹ đều tay tránh làm gãy cánh trà, thi thoảng nhớ dùng tay để cảm nhận nhiệt độ trà rang trong chảo , nhiệt độ tốt nhất là khoảng 90 đến 100 độ C . Ta sẽ rang trà trong khoảng 20 phút đến khi bóp nhẹ và nghiền cánh trà khô trên tay thì trà vụn không dính trên tay là đạt yêu cầu .

    Trà rang xong đã đủ độ khô ta rải đều lên giấy bản thành một lớp mỏng cho trà nguội tự nhiên rồi mới cất trà vào trong hũ đựng trà để dùng dần .

    Yêu cầu thành phẩm của Trà Ướp Hoa Bưởi

    Trà khô cánh trà không bị gãy vụn , nước trà xanh ánh vàng,hương thơm nhẹ nhàng của hoa bưởi, uống đến khi trắng nước trà vẫn còn hương .

    * Chú ý khi Thưởng Trà :

    Trà Ướp Hoa Bưởi và các loại trà ướp hoa nói chung cần phải có cách pha trà riêng, tuyệt đối không được Ngâm Trà vì khi ngâm trà nước trà sẽ gắt và hương trà bị nồng . tốt nhất là ta chỉ ngâm trà trong khoảng 10 đến 20 giây mỗi lần rồi rót hết trà trong ấm ra chén, ở các tuần trà tiếp theo khi ngâm trà ta cộng thêm khoảng 5 giây mỗi lần .

    Xem thêm: Cách Pha Trà Shan Tuyết Suối Giàng

    Chi tiết
  • Trà Shan Tuyết Suối Giàng có xuất xứ từ xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trà cổ thụ Suối Giàng có hậu vị rất tốt, hương thanh mát và tiền vị đậm, đây là một loại trà rất khó pha, nếu nhiệt độ nước và thời gian của từng bước quản lý […]

    Cách Pha Trà Shan Tuyết Suối Giàng

    Trà Shan Tuyết Suối Giàng có xuất xứ từ xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trà cổ thụ Suối Giàng có hậu vị rất tốt, hương thanh mát và tiền vị đậm, đây là một loại trà rất khó pha, nếu nhiệt độ nước và thời gian của từng bước quản lý không tốt thì trà sẽ có vị nồng và hương gắt, nếu đặc có thể sẽ khó uống.

    Một chén trà cổ thụ Suối Giàng pha đúng cách có màu nước vàng nhạt trong sáng, hương thoang thoảng, hậu vị sâu- dài. Vậy làm sao để có được chén trà đó?
    Chuẩn bị

    Nước: Dùng nước lọc hoặc nước mưa (nếu có), các loại nước này hạn chế các tạp chất tạo mùi lạ sẽ không làm ảnh hưởng đến hương của Trà.

    Trà cụ: Ấm chuyên (dùng pha trà), Chén tống (chén to, cũng có thể dùng một chiếc ấm để thay thế) có thể đựng được lượng nước trà đủ san ra các chén trà với số chén theo số người uống. Thìa (dùng để xúc trà tránh tiếp xúc bằng tay) và chén quân (chén để uống trà), lựa những chiếc chén quân có độ lớn đựng được lượng nước trà đủ cho 3 ngụm, một ngụm lớn và hai ngụm bé.

    Pha Trà

    1. Đun nước: Tốt nhất nên đun nước từ bếp gas hoặc bếp than hoa để nước nóng lên từ từ đến sôi lớn, khi nước sôi nhấc ra mở nắp ấm để cho nước trong ấm trở lại phẳng lặng (việc này giúp hạ nhiệt độ nước), rót nước vào phích sao cho hạn chế mất nhiệt nhất. Với cách đun và rót nước vào phích như vậy thì sau khi rót nước xong bạn sẽ có phích nước với độ nóng thích hợp để pha trà Suối Giàng.

    2. Cho lượng trà thích hợp (tùy thuộc vào khẩu vị, thường thì 1-2 người uống, một lạng pha khoảng 9-10 ấm, từ 3 người trở lên một lạng pha khoảng 6-8 ấm) vào ấm chuyên.
    3. Đánh thức trà: Đặt miệng phích sát miệng ấm rót nước vào ấm, dòng nước lớn, lượng nước vừa ngập trà trong ấm, lắc nhẹ ấm và rót ra ngay, sau khi rót nước đi để nguyên như vậy khoảng 15 giây.

    4. Trong khi chờ cho trà ngậm nước, các bạn tráng chén tống và chén quân với nước nóng.

    5. Ủ trà lần đầu: Rót nước vào ấm từ độ cao 20cm với dòng nước thật nhỏ đến ngập trà trong ấm (nhất thiết nước rót vào ủ phải nguội hơn nước rót vào đánh thức trà khoảng 3-5°C), mực nước gấp đôi mực trà, ủ khoảng 3-5 giây, sau đó rót ra chén tống.

    6. Ủ trà những lần tiếp theo: Sau khi uống hết trà của nước ủ đầu tiên chúng ta tiến hành ủ tiếp trà để cùng nhau thưởng thức, cách rót nước vẫn như lần ủ đầu tiên xong thời gian ủ lần sau bằng thời gian ủ lần trước cộng thêm 1-2 giây, mỗi lần ủ xong đều rót hết trà ra chén tống.

    Uống trà – Thử trà

    Trà đã được rót ra chén tống, sau đó các bạn rót ra các chén quân để thưởng thức, với chén trà đầu tiên này chúng ta nên uống thành 3 ngụm: ngụm thứ nhất bé đủ để nếm ở đầu lưỡi và đồng thời ngửi hương thơm của trà, ngụm thứ hai uống một ngụm lớn gần hết chén trà đẩy cho trà tràn vào mọi ngóc ngách trong khoang miệng (nhưng tuyệt nhiên không được để phát ra tiếng sẽ ảnh hưởng đến cảm giác của người cùng thưởng thức trà) rồi nuốt hết, hãy cảm nhận hậu hương của trà, ngụm thứ ba uống hết chỗ còn lại nhằm kiểm lại tiền hương, tiền vị và kiểm thêm hậu vị của trà. Từ chén trà thứ 2 mỗi người uống theo cách riêng của mình, từng ngụm nhỏ hay một ngụm lớn tùy thích sao cho thấy sảng khoái nhất.

    Xem Thêm: rà làm tăng cơ hội sống của người bị đau tim

    Chi tiết
  • Trà làm tăng cơ hội sống của người bị đau tim

    Các tác giả nhận thấy, bệnh nhân càng uống nhiều trà thì nguy cơ tử vong trong 4 năm sau khi bị đau tim càng thấp: Nguy cơ tử vong giảm 28% ở nhóm uống trà vừa phải và 44% ở nhóm uống nhiều trà.

    Nghiên cứu mới cho thấy, những người hay uống trà dễ sống sót sau cơn đau tim hơn những người không nghiền nó. Uống 19 tách trà mỗi tuần giảm được 44% nguy cơ tử vong. Tác dụng này là do chất chống ôxy hóa trong trà đem lại.

    Các đệ tử của trà (dù là trà đen hay trà xanh, trà nóng hay trà đá) đều giảm nguy cơ tử vong trong vòng 3-4 năm sau khi bị cơn đau tim so với những người thích dùng các đồ uống khác. Kết luận này được các nhà khoa học Mỹ đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 1.900 bệnh nhân ở độ tuổi 60 bị một cơn đau tim. Họ được theo dõi trong vòng 4 năm, bắt đầu khoảng 4 ngày sau tai biến nói trên và được chia làm 3 nhóm:

    – Nhóm 1: Không uống trà.

    – Nhóm 2: Uống trà vừa phải (dưới 14 cốc/tuần trong vòng 1 năm trước khi bị cơn đau tim).

    – Nhóm 3: Uống nhiều (hơn 14 cốc/tuần).

    Thống kê cho thấy, bệnh nhân thuộc nhóm 2 thường dùng 2 tách trà/tuần, còn những người thuộc nhóm 3 thường dùng 19 tách/tuần. Sau gần 4 năm, có 313 người tham gia nghiên cứu tử vong chủ yếu do bệnh tim mạch. Tuy vậy, trong số đó các tác giả nhận thấy, bệnh nhân càng uống nhiều trà thì nguy cơ tử vong trong 4 năm sau khi bị đau tim càng thấp: Nguy cơ tử vong giảm 28% ở nhóm uống trà vừa phải và 44% ở nhóm uống nhiều trà.

    Theo các tác giả, có thể việc sử dụng nhiều flavonoid (thành phần chính của trà) đã làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành và nguy cơ tử vong ở những người bị bệnh tim mạch.

    Flavonoid là chất chống ôxy hóa tự nhiên có trong các đồ ăn có nguồn gốc thực vật như táo, hành và súp lơ xanh…

    Xem Thêm: Hướng dẫn cách pha trà đen chi tiết

    Chi tiết
  • Trong thực tế, không có 1 công thức về cách pha trà đen đúng hay sai để làm điều đó! Tuy nhiên, bằng cách làm theo một vài nguyên tắc bạn có thể pha được các loại trà đen để thưởng thức theo phong cách của mình Để bắt đầu vào xem cách pha trà đen bạn […]

    Hướng Dẫn Cách Pha Trà Đen Chi Tiết

    Trong thực tế, không có 1 công thức về cách pha trà đen đúng hay sai để làm điều đó! Tuy nhiên, bằng cách làm theo một vài nguyên tắc bạn có thể pha được các loại trà đen để thưởng thức theo phong cách của mình

    Để bắt đầu vào xem cách pha trà đen bạn cần chuẩn bị những việc sau:

    – Thành phần

    • 6 ounces nước tương đương 350 ml nước, nhưng bạn cần cho nhiều hơn chút để trừ đi lúc nước sôi bốc hơi và lức đổ nước ra ly.
    • 2-3 gram hoặc 1 muỗng cà phê lá trà đen

    Bạn có thể chuẩn bị thêm một số thành phần khách để cho phù hợp hợp với khẩu vị của mình: sữa, chanh, đường, mật ong, mứt trái cây (truyền thống của Nga)

    – Thiết bị

    • Ấm đun nước
    • Nhiệt kế (có thể có hoặc không)
    • Ấm trà
    • Cân hoặc đo muỗng
    • Lọc hoặc phễu lọc
    • Hẹn giờ
    • Tách trà để phục vụ
    • Muỗng để khuấy sữa, đường, chanh (tùy ý)
    • Hướng dẫn cách pha trà đen 10 bước hướng dẫn chi tiết cách pha Trà đen 1. Đun nóng nước. Đặt nước trong một ấm trà nóng và nó chỉ để sôi lăn, hoặc giữa 90 ° và 95 ° C.2. Làm ấm ấm trà hoặc cốc (có thể làm hoặc không tuỳ ý). Đổ một lượng nhỏ nước sôi vào nồi hoặc cốc. Khi nồi hoặc cốc là ấm, đổ hết nước ra ngoài.

      3. Cân hay đo lá trà. Sử dụng một quy mô, đo lường 2-3 gram lá chè. Ngoài ra, biện pháp làm tròn 1 muỗng cà phê lá trà.

      4. Đặt lá trong ấm trà hoặc ly. Đặt lá trà trong nồi hoặc cốc, hoặc trực tiếp hoặc trong một Infuser.

      5. Đổ nước. Đổ nước lên những lá trà.

      6. Che ấm trà hoặc ly. Đậy nắp ấm trà hoặc, nếu sử dụng một chén, bọc ngoài bằng một nắp hoặc một chiếc đĩa nhỏ.

      7. Giữ cho nó ấm cúng. Che ấm trà hoặc ly với một trà ấm cúng hoặc một chiếc khăn dày để giữ nhiệt.

      8. Rót trà. Thiết lập một bộ đếm thời gian từ 3 đến 5 phút. Bạn có thể muốn nếm trà lúc 3 phút và sau đó mỗi 30 giây cho đến khi nó là theo ý thích của bạn

      9. Ngừng truyền dịch. Ngay sau khi trà đã sẵn sàng, loại bỏ các lá bằng cách nhấc bộ lọc ra hoặc rót trà ra.

      10. Thêm sữa, chanh, hoặc chất ngọt tuỳ thích. Nếu sử dụng sữa, đun nóng dần dần bằng cách thêm sữa vào cốc đầu tiên, sau đó đổ vào trà. Tránh kết hợp sữa và chanh, hoặc sữa có thể đông lại.

    Nguồn: Trà Đạo Quán

    Chi tiết

Showing 31–40 of 67 results